Thẩm mĩ thị giác và nghệ thuật thiết kế

Trong đào tạo ngành Truyền thông đa phương tiện, mỹ thuật và thẩm mĩ thị giác không chỉ là kiến thức nền tảng mà còn là năng lực xuyên suốt, quyết định chất lượng tư duy sáng tạo và khả năng hành nghề của sinh viên. Mọi sản phẩm truyền thông, từ thiết kế đồ họa, video, không gian thị giác, sản phẩm số đến truyền thông thương hiệu, đều cần được xây dựng trên cơ sở hiểu biết về cái đẹp, sự hài hòa thị giác và thị hiếu thẩm mĩ của công chúng. Vì vậy, mỹ thuật không tồn tại như một môn học đơn lẻ, mà trở thành công cụ nhận thức, phương pháp tư duy và tiêu chí đánh giá hiệu quả truyền thông trong học tập cũng như trong nghề nghiệp thực tế.

Thẩm mĩ thị giác là một thuật ngữ chỉ khả năng cảm thụ cái đẹp của con người. Sự hình thành thẩm mĩ thị giác của mỗi người chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau, trong đó nền tảng văn hóa và cảm thụ thị giác là hai yếu tố quan trọng. Đặc biệt trong nghệ thuật thiết kế, cả nghệ sĩ và công chúng đều chịu tác động của tâm thức bản địa và xu hướng thời đại. Tùy vào năng lực nhận thức thẩm mĩ, nền giáo dục mà mỗi cá nhân, dân tộc, thời đại, nền văn hóa khác nhau lại có những tiêu chuẩn thẩm mĩ khác nhau.

Riêng với nghệ thuật thiết kế, nhìn ở mặt ngoài của đời sống xã hội vốn không ảnh hưởng trực diện đến sự phát triển nhân cách con người, cũng không hẳn cần thiết đối với cộng đồng không nhạy cảm về nghệ thuật. Nhưng chính sản phẩm của nghệ thuật thiết kế luôn tồn tại trong đời sống con người. Với tiêu dùng, mỗi người đều là nghệ sĩ của chính mình nhờ thẩm mĩ thị giác riêng. Tuy vậy, con người có xu hướng không xem trọng và không có ý thức vun đắp cho gu thẩm mĩ của mình.

Chuẩn mực của cái đẹp là sự hài hòa. Tạo hóa luôn tạo ra những chuẩn mực thẩm mĩ thông qua sự hài hòa tuyệt vời nhìn từ các quan hệ tạo hình. Chẳng hạn người da vàng thì có tóc đen và môi đỏ tươi, người da trắng thì lại có tóc màu hung vàng, các tộc người da đen thì môi đỏ thẫm và hàm răng rất trắng. Mỗi quan hệ màu vừa nhắc đến đều tạo ra một hiệu quả có lợi cho tổng thể hòa sắc. Kế thừa tạo hóa, loài người đã lựa chọn cho riêng mình những phong cách làm đẹp hoàn toàn riêng biệt, phù hợp với cộng đồng sở hữu nó. Màu sắc trên những công cụ và vật phẩm trang trí của mỗi dân tộc đều mang đặc trưng riêng với sự hài hòa đặc biệt. Đó là hiệu quả nghệ thuật ngay giữa đời thường nhờ thị hiểu thẩm mĩ tích tụ qua nhiều đời. Những màu sắc và hình vẽ của các tộc người da màu thường không thể đẹp khi dùng trên người da trắng. Nhìn từ góc độ di sản nghệ thuật thiết kế, có thể thấy rõ nét sự hài hòa của các sắc tố trên mỗi bảng màu biệt lập của mỗi dân tộc. Điều đó cho thấy, điểm cốt yếu của từng loại hình nghệ thuật cũng định dạng thẩm mĩ thị giác khác nhau, tạo ra thị hiếu thẩm mỹ trong cuộc sống đời thường về cơ bản vẫn mang chân giá trị là sự hài hòa, thực tế, gần với chuẩn mực của thẩm mỹ thị giác. Đây là một tiêu chí dành cho nghệ thuật thị giác và cho ngành thiết kế truyền thông nói riêng.

Những chi tiết trang trí của chiến binh da đỏ – nguồn internet

Trong lịch sử loài người, nhu cầu thẩm mỹ và ý thức làm đẹp cho cuộc sống vốn đã tồn tại song hành cùng những nhu cầu khác, song khi đời sống tốt hơn thì nhu cầu thẩm mỹ ắt sẽ cao hơn. Giờ đây khi không còn lo đói ăn nữa, người Việt Nam cũng đã bắt đầu quan tâm hơn đến việc làm đẹp. “Nghề chơi cũng lắm công phu”, người ta có muôn vàn những cách làm đẹp và thụ hưởng cái đẹp khác nhau.

Lịch sử tư tưởng thẩm mỹ cho thấy, mĩ thuật không tiệm tiến như tiến trình phát triển xã hội loài người, không phải cứ thời kỳ sau sẽ phát triển tốt hơn thời kỳ trước. Chẳng hạn, bạn sẽ đồng ý rằng, một cái gùi, cái rổ đan bằng tre chắc chắn sẽ đẹp hơn khi nó sản xuất bằng nhựa. Vẻ đẹp mộc mạc đến từ thẩm mĩ tạo hình dân gian và kĩ thuật khéo đã nâng tầm những món đồ dân dụng thành giá trị nghệ thuật truyền thống . Những điều giản dị như thế không phải là ngẫu nhiên mà bằng sự tích tụ kinh nghiệm dân gian, hình thành một nền nghệ thuật truyền thống, là thành quả của quá trình sáng tạo dân gian. Vậy, trong bối cảnh những sản phẩm thiết kế của thời đại số hiện nay, để có những sản phẩm thiết kế đáp ứng được tiêu chuẩn cao về thẩm mĩ thị giác, mang được hồn cốt của nghệ thuật truyền thống, người làm thiết kế phải nghiên cứu học hỏi rất nhiều từ những thứ tưởng như chỉ là di sản của xa xưa.

Gùi nhựa và gùi đan bằng tre – nguồn internet

Về lĩnh vực màu sắc, người làm thiết kế cần hiểu rõ ba tham chiếu thú vị là địa văn hóa, tín ngưỡng và tri thức bản địa. Theo ảnh hưởng địa lý và địa văn hóa, người châu Âu ưa màu xanh và trắng, người châu Á ưa dùng màu đỏ và vàng. Về quan niệm dân gian có yếu tố tâm lý và tín ngưỡng, màu sắc trong văn hóa Á Đông thường tránh màu đen, trắng là những màu vô sắc. Tuy vậy, đôi khi có sự khác biệt do sự du nhập văn hóa. Chẳng hạn, trong các sự kiện trọng đại, trang phục trang trọng, lịch sự nhất thường là bộ vest màu đen, vốn đem lại sự sang trọng. Hoặc, với màu trắng, là thể hiện sự trinh trắng, thanh tao, cũng hướng đến nghĩa hồn nhiên vui vẻ nhưng lại là màu dùng trong tang lễ. Vậy là màu trắng cũng có hai nghĩa trái ngược. Về tri thức bản địa, những dân tộc ở vùng sa mạc nóng thì dùng màu trắng bởi màu trắng có tác dụng hạn chế sức nóng của mặt trời, tức là thiên về kinh nghiệm được tích lũy lâu dài. Vậy là tùy vào từng hoàn cảnh khác nhau mà thói quen và ý nghĩa của việc dùng màu sắc cũng khác nhau, đôi khi là đa nghĩa.

Trong lĩnh vực thời trang, người sống bề nổi có gu thẩm mỹ màu sắc mạnh mẽ, người dịu dàng thì ưa màu trung tính, người mạnh mẽ thì thích sự khác biệt với số đông, người thâm trầm thì ưa màu đậm v.v… Khi nhìn một người lớn tuổi mặc bộ trang phục nhiều màu hoặc màu quá mạnh là thấy không phù hợp. Một bộ quần áo của bạn trẻ tuổi 20 mà người tuổi 60 mặc là thấy không vào mắt… Những điều đó nói lên rằng, thời trang có liên quan chặt chẽ với lứa tuổi và ngoại hình của từng người cho nên biết được lợi thế này người làm thiết kế truyền thông nói riêng, công chúng nói chung có khả năng đóng góp cho thẩm mĩ thời đại.

Về không gian sống, ta biết rằng, phòng ngủ thường không sơn màu mạnh vì sẽ kích thích thị giác, gây khó ngủ. Không gian dành cho trẻ em thì màu sắc cần tươi vui, nổi bật… Suy ra, bối cảnh minh họa hay các sản phẩm thiết kế rõ ràng cũng phải đáp ứng các tiêu chuẩn đó nhằm có được giá trị hiện hữu của sự hài hòa thị giác.

Về cảm thụ và trải nghiệm giác quan, mỗi người có những ký ức, những ấn tượng riêng biệt là bởi nhu cầu của chúng ta là khác nhau. Khi chọn một món đồ trang trí, một mẫu sản phẩm in ấn hay một đồ dùng cá nhân, người tiêu dùng ít quan tâm đến mục đích của nhà thiết kế mà chỉ quan tâm đến sở thích của mình. Tuy nhiên, chính nhà thiết kế mới là người định hình thẩm mĩ tiêu dùng cá nhân dựa trên các sáng tạo thị giác nơi sản phẩm. Chẳng hạn, tùy theo quan niệm thẩm mĩ, những mẫu khăn choàng dành cho người lớn tuổi sẽ dành cho các nhóm công chúng khác nhau. Người sống nội tâm chắc chắn sẽ lựa chọn khác với người hướng ngoại, hoặc sử dụng cho chuyến du lịch sẽ khác với một sự kiện nơi khán phòng sang trọng.

Búp Bê Matryoshka của nước Nga – Nguồn Internet

Quà lưu niệm Quả cầu tuyết của nước Pháp – nguồn Internet

Như vậy, mặc dù chuẩn mực thẩm mĩ là một dấu hỏi lớn, nhưng nếu tham chiếu bằng ý nghĩa đối với nhu cầu đời sống tính thần thì dường như câu trả lời sẽ khá gọn gàng và thực tế.

Cũng như các năng lực khác của con người, năng lực thẩm mĩ quyết định đến khả năng hưởng thụ nghệ thuật và ảnh hưởng đến ý thức xã hội cũng như vị thế của chúng ta trong xã hội. Thẩm mĩ thị giác  thực ra cũng thuộc về bản năng con người nhưng để đạt đến ngưỡng “đẹp” thì cần phải học, phải trải nghiệm. Nếu các bạn thống nhất với những điều chúng tôi vừa đề cập ở trên thì nên chăng các bạn hãy lưu tâm đến ý thức tự giáo dục nghệ thuật một cách nghiêm túc. Ngay bây giờ có thể bạn thử kiểm định lại xem mình đã có những kiến thức sơ đẳng gì về các loại hình nghệ thuật. Liệu chúng ta có bị thiếu những hiểu biết quan trọng nhất về nghệ thuật hay không?

Nghệ thuật là một lĩnh vực song hành cùng các lĩnh vực khoa học khác. Nghệ thuật chứ không phải là khoa học, là yếu tố nhận diện lịch sử của mỗi dân tộc. Hoạt động nghệ thuật là một nghề như bao nghề khác, trong đó nghệ sĩ, nhà thiết kế là nhà bác học trong lĩnh vực của họ.

Nhu cầu nghệ thuật là hiển nhiên, tự thân của con người. Xã hội càng phát triển thì nhu cầu thưởng thức nghệ thuật càng lớn. Ngoài chức năng giải trí, nghệ thuật thậm chí là liều thuốc chữa bệnh, nhất là những căn bệnh có nguyên nhân từ xung đột nội tâm. Cuối cùng, hơn hết, nghệ thuật làm cho chúng ta trở nên có phong cách.

Với ngành Truyền thông đa phương tiện, nội dung bài viết là nguồn tham khảo quan trọng để giảng viên và sinh viên nâng cao năng lực cảm thụ mỹ thuật, hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa thiết kế và bối cảnh sử dụng, giữa sáng tạo cá nhân và nhu cầu xã hội. Qua đó, người học có thể định hình tư duy thẩm mĩ đúng đắn, học tập hiệu quả hơn ở các học phần mỹ thuật, thiết kế, đồng thời từng bước vận dụng kiến thức vào thực hành nghề nghiệp, tạo ra những sản phẩm truyền thông vừa có giá trị thẩm mĩ, vừa phù hợp với đời sống đương đại.